Co Canh Chu
Cố Cảnh Chu (1915-1996)

Bí Ẩn Đằng Sau Những Chiếc Ấm Tử Sa “Thiên Giá” Của Cố Cảnh Chu

Trong thế giới tinh hoa của gốm sứ Nghi Hưng và văn hóa trà đạo, tên tuổi Cố Cảnh Chu (1915-1996) sáng chói như một vì sao Bắc Đẩu. Ông không chỉ là một trong Thất lão nghệ nhân lừng danh của Nghi Hưng, mà còn được tôn vinh là Thái Đầu Ấm Nghệ (Bậc thầy tối cao của nghệ thuật ấm trà tử sa). Những chiếc ấm Cảnh Chu do tay ông làm ra không đơn thuần là dụng cụ pha trà, chúng là những tác phẩm nghệ thuật kết tinh tâm huyết, tài hoa và cả những câu chuyện đời đầy xúc động, khiến giới sưu tập săn lùng với giá “trên trời”.

Kỷ Lục Đấu Giá Khiến Thế Giới Kinh Ngạc

  • 2010: Một chiếc Ấm Thạch Biều của Cố Cảnh Chu được bán với giá 12.32 triệu tệ (tương đương hơn 40 tỷ đồng).
  • 09/12/2015: Cũng chính chiếc ấm đó tái xuất, giá tăng gấp đôi, đạt 23.5 triệu tệ (gần 80 tỷ đồng).
  • 18/12/2015: Một chiếc Ấm Thạch Biều khác của ông lập kỷ lục mới: 38 triệu tệ (khoảng 130 tỷ đồng) tại cuộc đấu giá ở Giang Tô.

Tại sao ấm Cảnh Chu lại sốt đến vậy? Từ Phong, nhà văn kiêm học giả nghiên cứu văn hóa tử sa, tác giả cuốn Quốc Hồ và Cố Cảnh Chu Truyện, giải thích rằng. Năm 2015 đánh dấu 100 năm ngày sinh của Cố Cảnh Chu, được tôn vinh rộng rãi từ Nghi Hưng đến Bắc Kinh, Đài Loan, Nhật Bản. Cơn sốt đấu giá là một cách tri ân đặc biệt. Mỗi khi thị trường tử sa trầm lắng, ấm Cảnh Chu lại lập kỷ lục mới. Giới sưu tập sáng suốt biết rằng trong thời điểm thị trường u ám, những tuyệt tác hiếm có như ấm Cảnh Chu mới là điểm tựa vững chắc. Sự khan hiếm, ước tính cả đời ông chỉ làm dưới 1000 chiếc càng đẩy giá trị lên cao, đồng thời kích thích cả thị trường gốm sứ nghệ thuật Nghi Hưng.

Am Thach Bieu Tu Truc Thuy Anh Co Canh Chu
Ấm Thạch Biều – Tu Trúc Thuý Ảnh – Cố Cảnh Chu

Ấm Thạch Biều 1948: Kiệt Tác Kết Tinh Tình Hữu Nghệ – Văn

Từ Hứa Phong gọi Cố Cảnh Chu là Văn nhân cuối cùng của nghệ thuật tử sa. Và Ấm Thạch Biều, chính là đỉnh cao trong những kiệt tác mang hồn cốt văn nhân của ông.

Thạch Biều vốn là mẫu ấm tử sa kinh điển, nằm trong bộ Mạn Sinh Thập Bát Thức (18 mẫu ấm do Trần Hồng Thọ hiệu Mạn Sinh thiết kế, thợ gốm Dương Bành Niên, Dương Phượng Niên chế tác thời Thanh). Cố Cảnh Chu đã cách tân mẫu ấm này, thân ấm căng tròn hơn với đường cong tinh tế, vòi ấm uyển chuyển hài hòa với thân tròn.

Khoảng năm 1948, Cố Cảnh Chu dốc lòng làm 6 chiếc Ấm Thạch Biều. Ông gửi thô về Thượng Hải nhờ người bạn là Đới Tường Minh chủ hiệu Thiết Họa Hiên. Tường Minh đích thân đem ấm thô đến nhà danh họa Ngô Hồ Phàm, lúc ấy đang ăn cơm, vốn định nghỉ trưa, nhưng khi thấy ấm thô của Cố Cảnh Chu, ông bỗng tỉnh hẳn. Lúc này, họa sĩ Giang Hàn Đình cũng đến. Hai vị đại danh họa đã vẽ trúc, mai và đề thơ lên 6 chiếc ấm. Sau đó, ấm được gửi về Nghi Hưng. Cố Cảnh Chu mời nghệ nhân khắc chữ Đàm Nghiêu Khôn khắc lên 5 chiếc, 1 chiếc dành riêng cho Ngô Hồ Phàm do chính ông tự khắc. Tiếc rằng khi nung, một chiếc bị hỏng.

Cố Cảnh Chu mang 5 chiếc Ấm Thạch Biều hoàn thiện đến Thiết Họa Hiên ở Thượng Hải. Ngô Hồ Phàm, Giang Hàn Đình, Đới Tương Minh, Đường Vân… tất cả đều có mặt. Buổi tụ họa ấy đã phân định chủ nhân của từng kiệt tác:

  1. Phong Động Sơ Trúc (风动疏竹) Cố Cảnh Chu giữ.
  2. Tu Trúc Thúy Ảnh (修篁翠影) Tặng Đới Tường Minh (Bán 23.5 triệu tệ năm 2015).
  3. Trúc Ảnh Thanh Phân (竹影清芬) Tặng Đường Vân (Bán 38 triệu tệ năm 2015).
  4. Huân Phong Tiêu Trúc (薰风潇竹) Tặng Giang Hàn Đình.
  5. Tuyết Mai Hàn Tước (雪梅寒雀) Do Giang Hàn Đình vẽ, Ngô Hổ Phàm đề thơ, Ngô Hồ Phàm giữ.

Chính Giang Hàn Đình từng nói với Cố Cảnh Chu: “Anh là người đã thông suốt được chữ Nghệ (Nghệ thuật) và chữ Tượng (Thợ thủ công)“. Lời nhận xét như một lời tiên tri. Từ Phong phân tích, trong số 7 lão nghệ nhân tử sa sau cách mạng, Cố Cảnh Chu trở thành lá cờ đầu không chỉ vì ông sống thọ hơn phần lớn, mà quan trọng là văn hóa tu dưỡng của ông cao nhất. Ông không chỉ theo đuổi sự tinh xảo tuyệt đối về kỹ thuật, mà còn nâng tử sa lên tầm văn hóa. Ông chính là “văn nhân cuối cùng của nghệ thuật tử sa”.

Co Canh Chu Dang Sang Tac
Cố Cảnh Chu Đang Sáng Tác

Ấm Địa Đề Lương: Tuyệt Tác Thấm Đẫm Nước Mắt Và Tình Phu Thê

Dù ấm Cảnh Chu từ những năm 40 đã đắt giá ngang một bức ấn chương của Tề Bạch Thạch, hay một căn nhà ở nội địa Trung Quốc vào thập niên 80-90, cuộc sống của bậc thầy lại vô cùng giản dị, thậm chí khó khăn. Từ Phong cho biết: “Cả đời ông chuyển nhà 16 lần, đến ngoài 70 tuổi mới có căn nhà riêng. Khi dọn vào, ông nói cảm giác như đang nằm mơ.”

Năm 1983, vợ ông Từ Nghĩa Bảo vào viện Ung bướu Thượng Hải chữa bệnh. Do khan hiếm giường bệnh và không đủ tiền thuê nhà trọ, hai cha con Cố Cảnh Chu phải nhờ bạn bè, tạm trú trong một gian phòng nhỏ ẩm thấp cạnh phòng bảo vệ trường Trung học Hoài Hải.

Từ Nghĩa Bảo kết hôn với Cố Cảnh Chu rất muộn. Từng sống ở Thượng Hải, Cố Cảnh Chu “luôn sống rất tinh tế, cả đời chỉ thích mặc áo len sợi bông 60 chi của Thượng Hải, trong hôn nhân cũng luôn theo đuổi sự hoàn mỹ, nên kết hôn rất muộn”. Đến năm 1964, khi gần 50 tuổi, ông mới kết hôn với bà Từ, kém ông 11 tuổi. Gần 20 năm chung sống, bà Từ luôn chăm sóc ông chu đáo, từ bát cháo nếp nấu vừa chín tới mà ông yêu thích…

Trong những ngày tháng vợ bệnh nặng ở Thượng Hải, nỗi đau đớn trong lòng Cố Cảnh Chu thấu tận trời xanh. Để giải khuây, ông bảo học trò mang đất sét và dụng cụ từ Nghi Hưng ra. Tại căn phòng nhỏ ẩm thấp ấy, ông đã nặn nên hai chiếc Ấm Địa Đề Lương (Giá Cô Đề Lương). Trên đáy ấm, ông khắc:
“Quý Hợi xuân (1983), vì chữa bệnh nan y cho vợ già, đến Thượng Hải chữa bệnh. Trọ tại trường Hoài Hải, trong lúc buồn chán vô hạn, nặn vài chiếc ấm để ghi lại nỗi gian truân của số phận. Cảnh Chu ghi, năm ấy 69 tuổi.”

Am Dia De Luong Co Canh Chu 1
Ấm Địa Đề Lương – Cố Cảnh Chu

Ấm Địa Đề Lương có thân dẹt tròn, quai ấm là một đề lương (tay cầm cao) vuông vức, góc cạnh. Nhìn nghiêng, ấm như một con chim đang bay. Ông đặt tên ấm là Địa Đề (Chim đa đa), loài chim trong thơ ca cổ điển luôn gắn với nỗi buồn thương, ly biệt, sự ngậm ngùi của kiếp người (như trong thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ). Mọi tâm tư, nỗi niềm của ông trong giai đoạn bi thương nhất đều gửi gắm vào hai chiếc ấm này. Một chiếc ông tặng cho người bạn đã giúp đỡ chỗ ở và chữa bệnh (Chu Khắc Hy), một chiếc tặng cho người hàng tuần mang rau quả đến cho vợ ông (Đới Tương Dân).

Trở Về Với Tinh Túy Thuần Khiết

Cố Cảnh Chu từng nói riêng: “Trước 70 tuổi, ấm của ta có thể có dấu ấn của người khác, sau 70 tuổi, ta hy vọng trên ấm của ta sẽ không còn xuất hiện thứ gì của người khác nữa.” Ông còn nói: “Những thứ hoa cỏ nhìn thấy là thấy phiền.”

Theo Từ Phong, sự chuyển hướng này là sự quy y về tinh thần truyền thống. Cố Cảnh Chu từng nói: “300 năm trước có Thiệu Đại Hanh, 300 năm sau là ta.” Thiệu Đại Hanh, cũng là người thôn Thượng Viên, nghệ nhân tử sa lừng danh đời Hàm Phong, chỉ chuyên tâm làm các loại ấm trơn (ấm không trang trí), không cộng tác với văn nhân, không giao du với quan phủ hay thương nhân, tính cách cương trực, thanh cao.

Tính cách đó đã manh nha trong Cố Cảnh Chu từ thuở trẻ. Ông nổi tiếng là người “tính khí kỳ lạ” ở Thượng Viên, chỉ chịu nói chuyện với người có học trong làng. Thời chiến tranh loạn lạc, lò nung thành lô cốt, gốm sứ tử sa thường ế ẩm, đồ tinh xảo hiếm hoi, Cố Cảnh Chu vẫn giữ vững nhịp độ của mình, làm ít, làm tinh.

Ông là người thợ có tinh thần thủ công nghiêm khắc đến mức hoàn hảo. Tủ gỗ, đôi đũa trong nhà đều tự mình mài dũa. Hơn 100 công cụ dùng để nặn ấm cũng đều tự chế. Ông còn yêu cầu học trò: “Đũa ăn cơm nhà các anh, que đan len đều phải tự mình gọt dũa, để luyện cảm giác làm đồ.”

Hơn thế, ông là một học giả. Thời Cách mạng Văn hóa, khi người khác chép Mao Chủ Tịch Ngữ Lục, Cố Cảnh Chu chép cuốn Dương Tiễn Danh Đào Tục Lục. Ông biết hát kinh kịch, biết tiếng Anh, học qua tiếng Nga, học vấn cổ văn uyên thâm. Khi phỏng vấn ở Đài Loan, ông ứng khẩu trích dẫn trường đoạn Trâu Kỵ phúng Tề Vương nạp gián. Đặc biệt, ông nghiên cứu rất sâu các điển tích tử sa lưu truyền. Từ Hứa Phong khẳng định: “Dù không làm ấm, ông cũng đã là một vị giáo sư, đại sư thành danh.”

Nghe Nhan Co Canh Chu Ben Ban Lam Viec
Nghệ Nhân Cố Cảnh Chu Bên Bàn Làm Việc

Thập niên 90, Cố Cảnh Chu khắc ấn chương cuối cùng của đời mình: Sinh Ất Mão (năm 1915). Từ Hứa Phong nhận định: “Giai đoạn này, nhân tố văn hóa truyền thống trong con người ông đã hoàn toàn bộc lộ, là một nghệ thuật gia tự trọng, tự đắc, tự tin, không cần bất kỳ hào quang nào khác tô điểm. Chiếc ấm tử sa của ông chính là nền văn hóa để ông lưu danh thiên cổ.”

Từ Phong ước tính, Cố Cảnh Chu gắn bó với nghề gốm 60 năm, tác phẩm nhiều lắm cũng không quá 1000 chiếc. Trong đó, ông tâm đắc nhất là Ấm Biển Phỏng Cổ (扁仿古壶 ). Từ Hứa Phong kể lại một giai thoại nhỏ năm 1992. Danh sư gốm Nhật Bản Katō Tatsumi đến Nghi Hưng gặp Cố lão. Katō từng chu du liệt quốc, qua hơn 50 nước, kiêu ngạo nổi tiếng ở Nhật.

Người nhà hỏi Cố lão: “Katō sắp đến, trong xưởng nên bày những ấm nào?”
Cố lão đáp: “Không cần, chỉ cần bày một chiếc Biển Phỏng Cổ là đủ.”

Katō bước vào xưởng, nhìn thấy Ấm Biển Phỏng Cổ, ánh mắt từ ôn hòa dần chuyển thành khiêm cung.

Hơn hai thập kỷ sau khi Cố Cảnh Chu qua đời (1996), câu hỏi day dứt của Từ Phong vẫn còn nguyên tính thời sự: “Văn hóa Trung Hoa bao la sâu thẳm. Nhưng bước tới hôm nay, mạch máu và phẩm chất của nó, không ít lần bị sương mù tinh thần xâm thực. Giữa bao nhiêu dị nghĩa, bao nhiêu biến thiên, bao nhiêu tân sinh, bao nhiêu hy vọng, có lẽ con người thời nay nên tự vấn lòng mình. Tử sa đang thời cực thịnh, nhưng trăm năm sau, chúng ta còn có thể có thêm một Cố Cảnh Chu nữa hay không?

Ấm Tử Sa Cảnh Chu không chỉ là báu vật trong bộ sưu tập ấm trà cao cấp, mà còn là biểu tượng văn hóa. Mỗi chiếc ấm là một chương sử được viết bằng đất, kể câu chuyện về tài năng xuất chúng, sự khổ luyện không ngừng, tình bạn tri kỷ giữa nghệ thuật và văn chương, tình phu thê sâu nặng, và tinh thần cầu toàn tuyệt đối của một bậc Thái Đầu. Sự khan hiếm và giá trị nghệ thuật, lịch sử, cảm xúc vô giá đã khiến chúng trở thành huyền thoại, là đỉnh cao mà bất kỳ ai đam mê gốm sứ nghệ thuật Nghi Hưng và thấu hiểu sự tinh tế của văn hóa trà đạo đều khao khát được chiêm ngưỡng. Câu hỏi về một Cố Cảnh Chu kế tiếp mãi là lời nhắc nhở về sự kết tinh giữa tài năng, tâm huyết, văn hóa tu dưỡng và bối cảnh thời đại để tạo nên một di sản vĩnh hằng.

Vì vậy, việc chờ đợi một “Cố Cảnh Chu kế tiếp” không đơn thuần là chờ đợi một danh hiệu hay một người thợ tài hoa, mà thực chất là chờ đợi một sự hội tụ thiên thời – địa lợi – nhân hòa hiếm hoi khác của lịch sử. Đó phải là sự xuất hiện của một tâm hồn nghệ sĩ dám đốt cháy mình trong ngọn lửa nghề nghiệp, một bản lĩnh văn hóa đủ sâu dày để thăng hoa chất liệu thô mộc thành tư tưởng, và một thời đại đủ tĩnh tại để ủ ấp và trân quọng sự sáng tạo tinh tuyền. Mỗi chiếc ấm Cảnh Chu đích thực là một vì sao cô đơn, tỏa sáng ở khoảng cách xa vời trong bầu trời nghệ thuật. Và có lẽ, sự tồn tại của chúng, cùng câu hỏi dai dẳng về người kế nghiệp, chính là để nhắc nhở chúng ta rằng: “Đỉnh cao chân chính không bao giờ là sự lặp lại, mà là sự thức tỉnh”. Khi một con người có thể dung hợp được nỗi cô đơn của đất, sự nóng bỏng của lửa, sự minh triết của trà và chiều sâu của thời gian vào trong một tạo vật, thì khoảnh khắc ấy, dù danh xưng là gì, di sản của Cố Cảnh Chu lại âm thầm tái sinh trong một hình hài mới, tiếp tục hành trình bất tận của cái đẹp và sự chiêm nghiệm.

Chia sẻ ý kiến của bạn

Secret Link
🛡️ Nội dung được bảo vệ bởi Trần Ký Trà