Ấm tử sa Tuyến Viên - Uông Bảo Căn
Ấm tử sa Tuyến Viên – Uông Bảo Căn

Nghệ Nhân Uông Bảo Căn: Khí Chất Ngang Tàng Và Di Sản Túc Trai Cuồng Hồ

Trong lịch sử Tử Sa Nghi Hưng, có những nghệ nhân không chỉ để lại tác phẩm xuất sắc mà còn để lại những câu chuyện về tính cách và khí chất. Uông Bảo Căn (汪宝根) là một trong số đó. Với biệt danh “Túc Trai cuồng hồ” lưu truyền ở Giang Nam, ông là bậc thầy của sự tinh xảo và cũng là biểu tượng của sự ngang tàng trước quyền uy. Hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu hành trình của người nghệ nhân đã góp phần định hình dòng ấm Đông Pha Đề Lương và để lại nhiều kiệt tác cho hậu thế. Cái tên “cuồng hồ” không phải vì ông làm ra những chiếc ấm điên cuồng, mà bởi chính cốt cách của một nghệ nhân không chịu khuất phục trước bất kỳ áp lực nào để đánh đổi chất lượng tác phẩm.

Hành Trình Từ Cậu Bé Thục Sơn Đến Danh Xưng Tử Sa Tam Bảo

Điểm Tựa Gia Tộc Và Những Người Bạn Đồng Hành Thuở Thiếu Thời

Uông Bảo Căn sinh năm 1890 tại Nghi Hưng, Thục Sơn, trong một gia đình chuyên làm tử sa. Thuở nhỏ, ông từng theo học tại Thục Sơn Đông Pha Thư viện. Năm 1904, năm ông 14 tuổi, Uông Bảo Căn theo bác ruột là danh nhân cuối đời Thanh Uông Xuân Vinh (còn gọi Uông Sinh Nghĩa) học nghề tại “Nghi Hưng Lợi Dụng Công ty”.

Dưới sự dạy dỗ của người bác, Uông Bảo Căn được rèn giũa bài bản từ những kỹ thuật cơ bản nhất. Cùng học với ông còn có Ngô Vân CănChu Khả Tâm những người sau này trở thành những bậc thầy lớn của làng tử sa. Uông Bảo Căn là sư huynh của cả hai.

Một may mắn khác trong những năm đầu học nghề là Uông Bảo Căn sống cạnh nhà danh nhân Hoàng Ngọc Lân. Ông thường xuyên đến xin chỉ bảo và học hỏi được nhiều tuyệt kỹ.

Am tu sa Ngu Hoa Long cua Uong Bao Can
Ấm tử sa Ngư Hóa Long của Uông Bảo Căn, tuyệt tác hoa hóa với kỹ thuật vảy rồng tinh xảo.

Bước Ngoặt Danh Hiệu Túc Trai Và Trách Nhiệm Tổng Kỹ Thuật

Bước vào thập niên 1920, Uông Bảo Căn bắt đầu khẳng định tên tuổi. Ông sáng tác tác phẩm Mai Hoa Trúc Đỉnh, một tác phẩm kết hợp cân nhưỡng và hoa hóa, đòi hỏi kỹ thuật cao. Tác phẩm này đã giúp ông được thăng chức làm kỹ sư tại Lợi Dụng Công ty.

Cũng trong khoảng thời gian này, Uông Bảo Căn tự đặt hiệu cho mình là “Túc Trai” (旭斋) – Gian phòng chứa đựng ánh sáng mặt trời buổi sớm. Ông mời những người khắc ấn giỏi khắc triện, mỗi khi hoàn thành một tác phẩm liền đóng dấu dưới đáy ấm. Từ đó, ấn ký “Túc Trai” xuất hiện song song với “Nghi Hưng Lợi Dụng Công ty” và “Uông Bảo Căn” trên các tác phẩm của ông.

Biệt danh “Túc Trai cuồng hồ” gắn liền với một giai thoại nổi tiếng. Theo một số tài liệu, viên cảnh sát trưởng Nghi Hưng là Chu Nhạc Niên rất hâm mộ tài năng của Uông Bảo Căn, đã đặt cọc trước nửa năm để ông làm một chiếc ấm. Nhưng Uông Bảo Căn vẫn tỉ mẩn và cầu kỳ như mọi khi, không vì áp lực từ quyền lực mà làm nhanh. Nửa năm trôi qua, Chu Nhạc Niên không nhận được ấm, liền sai người bắt Uông Bảo Căn về nhà riêng để ông tập trung làm. Thế nhưng, vị nghệ nhân này không hề sợ hãi, ngày ngày vẫn ăn uống ngủ nghỉ điều độ, kiên quyết không chịu làm ấm cho đến khi nào ông thấy thực sự ưng ý. Giới sĩ phu Nghi Hưng nghe tin nổi giận, kéo đến đòi người. Ba ngày sau, Uông Bảo Căn được thả, và chiếc ấm vẫn chưa được làm ra. Giai thoại này lan truyền khắp Giang Nam, người đời gọi ông là “Túc Trai cuồng hồ”, người nghệ nhân Túc Trai với chiếc ấm cuồng nhiệt, không vì bất kỳ quyền uy nào mà hạ thấp tiêu chuẩn của mình.

Tiếng Vang Viễn Xứ Tại Hội Chợ Thế Giới Chicago 1935

Đầu thập niên 1930, “Tỉnh lập Nghi Hưng Đào Nghi Học hiệu” hiệu trưởng Vương Thế Kiệt tổ chức cho các nghệ nhân sáng tác mẫu ấm Đông Pha Đề Lương. Uông Bảo Căn đã dành hơn ba tháng để chế tác, tạo ra một tác phẩm khí thế, đoan trang, cổ kính.

Năm 1933, Nghi Hưng Lợi Dụng Công ty phát triển với hơn 300 công nhân, Uông Bảo Căn được bổ nhiệm làm Tổng kỹ thuật chỉ đạo, phụ trách kiểm soát chất lượng, đào tạo và quản lý sản xuất.

Năm 1935, Uông Bảo Căn tiếp tục hoàn thiện và cho ra đời Đại Đông Pha Đề Lương cùng Tam Hữu Bình. Hai tác phẩm này đã tham dự Hội chợ Thế giới Chicago và đoạt giải thưởng xuất sắc. Sự kiện này đã đưa tên tuổi Uông Bảo Căn vang danh trong và ngoài nước.

Cùng thời gian đó, ông còn được mời làm Tổng kỹ thuật chỉ đạo tại “Uông Tường Hưng Đào Xưởng” và “Nghi Hưng Tân Hoa Đào Khí Xưởng”. Uông Bảo Căn cùng với Lý Bảo Trân và Trần Bảo Sinh được mệnh danh là “Tử sa tam bảo”.

Am tu sa Dai Dong Pha De Luong cua Uong Bao Can
Đại Đông Pha Đề Lương, kiệt tác đoạt giải Chicago 1935 của Uông Bảo Căn.

Tư Duy Thẩm Mỹ Chậm Mà Kỹ Và Kỹ Thuật Dung Hợp Tam Đại Khí Loại

Dấu Ấn Độc Bản Anh Đào Tiểu Bao Chủy Và Tuyệt Kỹ Ngư Hóa Long

Khi nghiên cứu các văn bản kỹ nghệ đương thời, chúng ta dễ dàng nhận thấy Uông Bảo Căn là người tôn sùng chủ nghĩa hoàn hảo. Ông chế tác vô cùng cẩn trọng, có những phôi ấm ông dành cả tháng trời để gọt giũa và nếu phát hiện một tì vết nhỏ khi hoàn thiện, ông sẽ đập bỏ ngay lập tức.

Sáng tạo mang tính nhận diện cao nhất của Túc Trai chính là cấu trúc vòi ấm có tên gọi Anh Đào Tiểu Bao Chủy. Vòi ấm được mô phỏng ngắn gọn, ôm sát vào thân và uốn cong nhẹ nhàng như quả anh đào, giúp dòng nước khi rót ra đạt độ gom lý tưởng, không bị nhỏ giọt.

Đối với dáng ấm kinh điển Ngư Hóa Long, ông đã nâng tầm kỹ thuật động khi chế tác phần đầu rồng và lưỡi rồng có thể chuyển động linh hoạt mỗi khi người thưởng trà nghiêng ấm rót nước. Các lớp vảy rồng trên thân ấm được ông đục chạm thủng và nổi đan xen, tạo nên một hiệu ứng thị giác có chiều sâu rõ rệt.

Đỉnh Cao Dung Hợp Cân Nhưỡng Khí Và Hoa Hóa Khí

Uông Bảo Căn là một trong số ít nghệ nhân có khả năng tinh thông cả ba dòng khí chính của Tử Sa: khí tròn, cân nhưỡng và hoa hóa.

Ở dòng khí tròn, ông để lại những tác phẩm như Phỏng Cổ, Dương Thống. Ở dòng cân nhưỡng, ông xuất sắc với Hợp ĐàoHợp MaiLục Phương Trúc Đỉnh. Ở dòng hoa hóa, ông để lại Trúc TiếtMai Đoạn.

Sự kết hợp giữa các dòng khí trong cùng một tác phẩm là điểm mạnh đặc biệt của Uông Bảo Căn, như Mai Hoa Trúc Đỉnh là sự hội tụ của cân nhưỡng và hoa hóa. Sự đa dạng này cho thấy một nghệ nhân có chiều sâu kỹ thuật và khả năng sáng tạo không ngừng.

Những Kiệt Tác Lưu Danh Hậu Thế Của Túc Trai

Đại Đông Pha Đề Lương – Biểu Tượng Khí Chất Văn Nhân

Tác phẩm Đại Đông Pha Đề Lương được xem là đỉnh cao trong tư duy hình khối của Uông Bảo Căn, thể hiện một phom dáng vững chãi nhưng không thô kệch. Thân ấm phình to đầy đặn, phần quai đề lương phía trên được cách điệu từ ba cành cây cổ thụ đan cài vào nhau, tạo không gian thoáng đạt cho tổng thể.

Một mặt của thân ấm được khắc dòng minh văn chữ Hán thể hiện tầng sâu văn hóa của tác phẩm:

汉半瓦延年 “Hán bán ngõa diên niên”

Dịch nghĩa: Mảnh ngói nửa hình tròn thời nhà Hán giúp kéo dài tuổi thọ.

Mặt còn lại của tác phẩm là bức họa sơn thủy được phóng bút điêu luyện, tạo nên một sự tương tác nhịp nhàng giữa kỹ nghệ làm gốm và nghệ thuật thư họa truyền thống.

Mai Hoa Trúc Đỉnh – Khúc Giao Hòa Của Hình Khối

Mai Hoa Trúc Đỉnh là tác phẩm đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp của Uông Bảo Căn vào thập niên 1920.

Tác phẩm kết hợp giữa kỹ thuật cân nhưỡng (đường gân nổi trên thân ấm) và hoa hóa (hình ảnh hoa mai và tre). Hình dáng của ấm vừa tròn vừa vuông, vừa mềm mại vừa cứng cáp. Sự kết hợp này đòi hỏi kỹ thuật cao và thể hiện trình độ điêu luyện của người nghệ nhân.

Sau thành công của Mai Hoa Trúc Đỉnh, Uông Bảo Căn tiếp tục sáng tác hàng loạt tác phẩm khác như Mai Hoa TrúcViên TrúcMai ĐoạnTứ Phương Trúc ĐỉnhHợp ĐàoHợp Mai, khẳng định vị thế của mình trong làng tử sa.

Am tu sa Mai Hoa Truc Dinh Uong Bao Can
Mai Hoa Trúc Đỉnh, bước ngoặt sự nghiệp của Uông Bảo Căn vào thập niên 1920.

Thượng Đào Hợp Lăng Và Những Tác Phẩm Lưu Giữ Tại Bảo Tàng

Hiện nay, khi có dịp ghé thăm Bảo Tàng Gốm Sứ Nghi Hưng, người thưởng ngoạn có thể chiêm ngưỡng tác phẩm Thượng Đào Hợp Lăng gốc của Uông Bảo Căn. Tác phẩm này thể hiện kỹ thuật ghép nối các mảnh đất có độ cong phức tạp, các đường hướng tâm từ núm nắp chạy đều xuống đáy ấm không lệch một ly.

Ngoài ra, dáng ấm Tuyến Viên của ông cũng được nhà nghiên cứu Hồng học nổi tiếng Phùng Kỳ Dung sưu tầm và đánh giá cao. Những tác phẩm thuộc dòng này thường có đường chỉ nổi chạy ngang hông ấm, phân chia tỷ lệ hai nửa trên dưới một cách hài hòa, thể hiện một tư duy thiết kế đi trước thời đại.

Am tu sa Hop Dao cua Uong Bao Can – hinh qua dao
Ấm tử sa Hợp Đào của Uông Bảo Căn, năm múi cân nhưỡng, nút hình quả đào.

Di Sản Đương Đại Và Bí Truyền Chế Hồ Yếu Quyết

Giá Trị Trên Các Sàn Đấu Giá Quốc Tế

Trên thị trường sưu tầm Tử Sa cao cấp hiện nay, các tác phẩm có đóng ấn ký Túc Trai hoặc Uông Bảo Căn luôn nằm trong danh mục được tìm kiếm nhiều nhất. Do số lượng tác phẩm hoàn thiện lúc sinh thời của ông không nhiều bởi thói quen làm việc kỹ lưỡng, giá trị của chúng liên tục tăng ổn định.

Tại các phiên đấu giá chính thống, một chiếc ấm Đại Đông Pha Đề Lương nguyên bản của ông từng được gõ búa ở mức 103.500 NDT (Khoảng 350.000.000 VND). Những dáng ấm phổ thông hơn như Dương Thống hay Phỏng Cổ nếu rõ ràng về nguồn gốc và giữ được độ nguyên vẹn của bề mặt đất cũng có giá trị từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng.

Am tu sa Tuyen Vien cua Uong Bao Can
Ấm tử sa Tuyến Viên của Uông Bảo Căn, dáng ấm khí tròn đặc sắc với đường chỉ nổi eo ấm

Người Nối Nghiệp Và Cuốn Bí Kíp Của Dòng Họ Uông

Sự nghiệp của Uông Bảo Căn được tiếp nối bởi người con trai là Uông Phúc Đình, người đã tiếp thu trọn vẹn những quy chuẩn khắt khe từ cha. Trải qua những biến động của thời cuộc, dòng họ Uông vẫn duy trì được mạch ngầm tri thức chế tác gốm độc bản tại vùng đất Thục Sơn.

Đặc biệt, người cháu nội của ông là nghệ nhân Uông Thân Pháp hiện vẫn đang lưu giữ cuốn thủ bản Chế Hồ Yếu Quyết do chính Uông Bảo Căn ghi chép lại. Đây là tập hợp những công thức phối trộn đất non, cách căn chỉnh nhiệt độ lò nung củi và những mẹo nhỏ để xử lý vòi ấm mà ông đã đúc kết suốt cả cuộc đời.

Do ảnh hưởng của chiến tranh và sức khỏe suy giảm, ông không kịp tham gia vào giai đoạn thành lập Hợp tác xã gốm sứ Nghi Hưng năm 1954. Ông lặng lẽ qua đời vào tháng 10 năm 1954, để lại một khoảng trống lớn cho thế hệ nghệ nhân cùng thời.

Khoảng Lặng Nhân Sinh Từ Một Đời Cuồng Hồ Kiên Định

Nhìn lại cuộc đời của Uông Bảo Căn, biệt danh Cuồng hồ không đơn thuần là sự ngạo nghễ của một người thợ lành nghề. Cái cuồng ấy chính là sự kiên định đến cực đoan với cái đẹp, là thái độ từ chối tạo ra những sản phẩm thương mại kém chất lượng dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.

Giữa dòng chảy vội vã của thời đại, câu chuyện về Túc Trai cuồng hồ nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự chậm rãi và tĩnh lặng. Một chiếc ấm tốt không thể ra đời từ sự nôn nóng, và một tri thức thưởng trà sâu sắc cũng cần những khoảng lặng để lắng đọng và thấu hiểu.


Ấm Tử Sa Uông Bảo Căn

Chia sẻ ý kiến của bạn