
Nội dung bài viết | Trần Ký Trà
Phan Hồ: Biểu tượng Thanh Nhã của Trà Đạo trong Ấm Tử Sa Nghi Hưng
Theo ghi chép trong Dương Tiễn Mộ Sa Hồ Đồ Khảo một tư liệu quan trọng nghiên cứu về ấm tử sa Nghi Hưng. Phan Sĩ Thành, tự Đắc Dư, là một danh nhân nổi tiếng thời Nhà Thanh. Ông quê gốc ở Phiên Ngung, Quảng Đông, xuất thân từ một gia tộc buôn muối giàu có và từng giữ chức vụ quan trọng là Tuần phủ tại Lưỡng Quảng. Xuất phát từ truyền thống gia đình sành trà đạo, ông đã đặt các nghệ nhân Nghi Hưng chế tác riêng những chiếc ấm tử sa cao cấp, vừa để tự dùng, vừa làm quà tặng giao hảo với giới sĩ đại phu và quan lại.

Những chiếc ấm do Phan Sĩ Thành đặt làm nổi bật với kiểu dáng cố định và đặc điểm nhận diện độc đáo, ấn triện luôn được khắc trên mép nắp, thay vì ở đáy ấm hay lưng ấm như thông thường. Ấn triện là chữ Phan (潘) viết theo lối triện thư dương văn. Danh tiếng và uy tín của những chiếc ấm này lan rộng, khiến người đời gọi chung kiểu ấm đặc trưng này là Phan Hồ.

Phan Hồ được phân loại chủ yếu dựa trên chiều cao thân ấm, gồm ba dáng chính
- Phan Hồ Thấp ( Ẩm Phan): Thân ấm thấp, dẹt, hình dáng tương tự trái hồng.
- Phan Hồ Trung (Trung Phan): Thân ấm cao vừa phải, dáng gần tròn hoặc cầu dẹt.
- Phan Hồ Cao (Cao Phan): Thân ấm cao, dáng thon, gần giống quả lê.
Tại vùng Phúc Kiến, đặc biệt là ở Phủ Điền (quê gốc Phan Sĩ Thành), Phan Hồ nhỏ Chu Nê gần như là vật dụng không thể thiếu trong nghi thức trà Công Phu. Người dân nơi đây lấy họ Phan làm niềm tự hào lớn. Phan Hồ còn mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc, trở thành vật phẩm hồi môn quan trọng khi con gái trong gia đình xuất giá. Cha mẹ kỳ vọng thông qua chiếc ấm quý, con gái nơi nhà chồng sẽ sống hiền thục, đảm đang, gặt hái được vinh hoa phú quý như cụ tổ Phan Sĩ Thành. Vì thế, họ luôn chọn lựa kỹ lưỡng Phan Hồ Nghi Hưng tử sa chính hiệu, chất lượng cao, hiếm khi dùng ấm Sán Đầu (một loại gốm địa phương Phúc Kiến) cho mục đích này.
Chiếc ấm Phan Hồ theo cô gái về nhà chồng không chỉ dùng để pha trà. Trong đời sống thường nhật, nó còn có thể được trân trọng đặt trên bàn trang điểm để đựng dầu dưỡng tóc hoặc các vật phẩm nhỏ. Và theo một số ghi chép và truyền thống địa phương khi bà chủ nhân qua đời, chiếc Phan Hồ thường được chôn theo như vật tùy táng quý giá, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với công ơn dưỡng dục của gia đình sinh thành và như một biểu tượng gắn bó suốt cuộc đời.
Thưởng Thức Vẻ Đẹp Tinh Tế của Phan Hồ
- Dáng Cao Phan (Lấy cảm hứng từ Xuyết Cầu): Thường được chế tác từ loại đất Tử Nê cao cấp cho màu đỏ tím, bề mặt mịn màng ánh lên vẻ ấm áp như ngọc. Chân đế vuốt gọn, rõ ràng; cổ ấm thanh thoát. Nắp phẳng, nhẹ, đường gờ nắp khớp khít tinh tế với miệng ấm. Núm tròn nhỏ như hạt châu, có chân đế mảnh mai nhưng rành mạch. Vòi cong nhẹ nhàng, thuần khiết, giúp nước chảy thành dòng sợi mảnh, chuẩn xác. Đường cong toàn thân uyển chuyển tự nhiên, toát lên cốt cách thanh tú, dáng vẻ đĩnh đạc và thanh lịch.
- Dáng Thấp/Trung Phan (Lấy cảm hứng từ Phỏng Cổ): Thân ấm dạng tròn dẹt, vững chãi. Chân đế cao, tỷ lệ hài hòa với thân. Bụng ấm phình tròn đầy đặn, trên dưới cân xứng. Vòi và quai ấm được gắn kết một cách tự nhiên, hòa quyện thành một thể thống nhất. Toàn bộ ấm toát lên vẻ đoan trang, hùng hậu. Đường cong thân ấm vừa mềm mại uyển chuyển vừa căng tràn sức sống, tựa như một khối ngọc bích được mài giũa tinh xảo. Kiểu dáng thon nhỏ dần về phía trên và phình rộng ở phần dưới gợi hình ảnh quả lê. Đến phần bụng, dáng ấm thu gọn một cách tự nhiên, toát lên vẻ phú quý, sung túc, đầy đặn và khí phách hào sảng.

Nhờ tay nghề chế tác điêu luyện của nghệ nhân Nghi Hưng cùng chất liệu đất tử sa quý hiếm được xử lý công phu, Phan Hồ luôn được giới sành trà đạo và sưu tầm nghệ thuật trân quý qua nhiều thế hệ. Một trong những lý do khiến Phan Hồ trở thành vật phẩm trang nhã không thể thiếu nơi thư phòng, bên cạnh vẻ đẹp thẩm mỹ, chính là nhờ công năng tuyệt vời của loại ấm tử sa nhất thủ hồ (ấm vừa một tay). Nó cho phép các bậc văn nhân, nghệ sĩ, danh sĩ vừa nhâm nhi tách trà thơm ngon, vừa đưa tay nâng niu chiêm ngưỡng vẻ đẹp tinh xảo của ấm, vừa thả hồn vào sáng tác thơ văn, hội họa hay đàm đạo nghệ thuật. Sự kết hợp hoàn hảo giữa nghệ thuật thưởng trà và thẩm mỹ ấm chén này đã trở thành một nét phong lưu đặc trưng, một biểu tượng của sự thanh nhã trong văn hóa trà đạo.





